"Khôn cho người ta dái..."

03 Tháng 04, 2022 | 02:15

"Khôn cho người ta dái, dại cho người ta thương, dở dở ương ương chỉ tổ cho người ta ghét". Đọc câu tục ngữ này, có lẽ nhiều người... nhăn mặt bởi lọt vào đó từ "dái" chẳng hề thanh tao chút nào cả.

Một khi chê trách ai, ta bảo "Già dái non hột" là hiểu theo nghĩa bóng kẻ đó bề ngoài hung hăng, hung tợn cứ như thể chực ăn tươi nuốt sống người khác nhưng thật ra bên trong lại nhút nhát, hèn nhát, sợ sệt. Có cho tiền cho bạc cũng đố dám.

Thế nhưng dái trong câu thành ngữ "Khôn cho người ta dái…" lại có nghĩa là sợ, kiêng nể bởi thế mới có câu: "Cha kính mẹ dái". "Thiên Nam ngữ lục" ra đời thế kỷ XVII; trong tổng số 8.136 câu thơ lục bát - được xem là tác phẩm văn vần dài nhất trong kho tàng văn học Việt Nam viết bằng chữ Nôm, có câu: "Xa gần mến đức dái uy". Thật ra, trước đó nữa, từ thời nhà Lê ở thế kỷ XV, nhà văn hóa Nguyễn Trãi cũng đã từng viết: "Chuộng thì nên ngõ, nhờn thì dái".

Có thể câu thơ này khó hiểu chăng? Xin giải thích nôm na: Được trọng/ trọng vọng/ quý trọng/ yêu mến (chuộng) thì nên giỏi (ngõ). Từ cổ "ngõ" còn lưu dấu trong lời ăn tiếng nói trong quá khứ xa xăm: "Có tài có ngõ thì gõ với nhau". Thế nhưng do từ ngõ đã hoàn toàn mất nghĩa nên câu tục ngữ này, hiện nay đã trở nên phổ biến là "Có tài có mỏ thì gõ với nhau/ Có sừng có mỏ thì gõ với nhau".

Không chỉ có thế, "Từ điển Việt - Bồ - La" (1651) cho biết còn có từ… "kính dái" và giải thích: "Sợ một cách tôn kính như đối với cha mẹ, vua chúa…". Trải qua năm tháng, dái theo nghĩa đầu đã mất đi. Chính vì thế, có câu nguyên bản "Quen dái dạ, lạ dái áo" nhưng rồi do không hiểu dái là gì nên người ta mới nói "Quen sợ dạ, lạ sợ áo/ Quen nể dạ, lạ nể áo" như nhiều từ điển đã ghi nhận.

Xin hỏi một cách nghiêm túc rằng có phải từ dái theo nghĩa sợ, khiêng nể dần dần đã được hoán đổi qua rái? Vâng, đúng là thế. Có lẽ là do cách phát âm của vùng miền nên từ d (dái) lại biến đổi qua r (rái)? Khi lấy "Việt Nam tự điển", do Hội Khai trí tiến đức khởi thảo, so sánh với từ điển trong Nam, ta thấy có nhiều trường hợp, trong chừng mực nào đó thì d/r đã có sự tương đồng. Chẳng hạn, bóng dâm/ bóng râm, hoa dâm bụt/ hoa râm bụt, dòi/ ròi, dọi/ rọi, dởm/ rởm, giỡn (dỡn)/ rỡn, sợ dởn tóc gáy/ sợ rởn tóc gáy, dùn/ rùn, dứt/ rứt…

"Việt Nam tự điển" (1931) ở ngoài Bắc giải thích: "Rái: Sợ, hãi" và dẫn câu: "Yêu nhau như chị em gái, rái nhau như chị em dâu". Hiện nay, sự ghi nhận lẫn lộn giữa dái/ rái xuất hiện ở nhiều từ điển thành ngữ, tục ngữ cũng là điều dễ hiểu.


Lê Minh Quốc

Viết bình luận

CHUYÊN TRANG PHỤ NỮ

Email: phunu@nld.com.vn

NHẬN EMAIL MỚI HÀNG NGÀY

Đăng ký nhận tin mỗi ngày từ chuyên phụ nữ

Giấy phép số 115/GP- BTTTT cấp ngày 09 tháng 02 năm 2021 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Tổng Biên tập: TÔ ĐÌNH TUÂN
Địa chỉ: 123 - 127 Võ Văn Tần, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3 - TPHCM, Điện thoại: 028-3930.6262 / 028-3930.5376, Fax: 028-3930.4707. Email: toasoan@nld.com.vn
Bản quyền thuộc về Báo Người Lao Động. Các website khác đã được chúng tôi đồng ý cho khai thác thông tin, khi đăng lại phải ghi rõ nguồn: Theo Báo Người Lao Động (www.nld.com.vn).